Mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp kế toán

19:06 |


huong dan lam bao cao thuc tap ke toan 140x100 Mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp kế toán
Hướng dẫn làm báo cáo thực tập tốt nghiệp kế toán
Bạn đang cần tìm mẫu báo cáo thực tập kế toán , báo cáo tốt nghiệp kế toán hướng dẫn báo cáo tốt nghiệp kế toán ?





aketoan xin chia sẻ với bạn những tài liệu kế toán đã tổng hợp trong suốt khoảng thời gian qua.
Mong rằng, chúng sẽ giúp ích được cho các bạn.
  • Công tác hạch toán chi phí, doanh thu của hoạt động phát hành báo chí tại Công ty Phát hành báo chí Trung Ương.
  • Hoàn thiện công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá tại Công ty Phát hành sách  Hải  Phòng.
  • Kế toán hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm Công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại xí nghiệp Sông Đà 206.
  • Kế toán hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm tại Nhà máy Thiết bị Bưu điện.
  • Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.
  • Kế toán nguyên vật liệu.
250 báo cáo thực tập kế toán
o55ez6 Mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp kế toán
Hướng dẫn làm báo cáo tốt nghiệp kế toán
o55ez6 Mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp kế toán
Mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp kế toán
o55ez6 Mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp kế toán
Gợi ý cho bạn
Chương trình khuyến mãi ngày vàng
GIẢM ĐẾN 40% HỌC PHÍad Mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp kế toán
Khi bạn đăng ký khóa học kế toán tổng hợp
ÁP DỤNG TỪ NGÀY 10/12 ĐẾN 24/12
 Liên hệ ngay Mr.Tuấn - Hotline: 0979 163 530

Kế toán Việt Nam trên đà hội nhập

02:34 |

Chuẩn mực kế toán quốc tế và trong nước
Khác với hệ thống kế toán Việt Nam (VAS), hệ thống kế toán quốc tế (IAS) không có sự bắt buộc mang tính hình thức (như biểu mẫu báo cáo thống nhất, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, hình thức sổ kế toán, mẫu các chứng từ gốc thống nhất). IAS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa, phương pháp làm, cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải trình bày trong các báo cáo tài chính nhưng IAS không bắt buộc phải sử dụng chung các biểu mẫu báo cáo tài chính, hệ thống tài khoản, các hệ thống chứng từ, sổ kế toán. IAS có bộ khung khái niệm và tính thống nhất cao giữa các chuẩn mực. VAS còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, thiếu nhiều vấn đề và đặc biệt là còn mâu thuẫn giữa các chuẩn mực hoặc sự không thống nhất giữa chuẩn mực và hướng dẫn về chuẩn mực đó.
Hệ thống kế toán và chuẩn mực quốc tế về việc làm  kế toán (IASs/IFRSs) được soạn thảo bởi Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Nó được soạn thảo và công bố theo những quy trình rất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các chuẩn mực và đảm bảo tính thực hành cao. IASs/IFRSs được sử dụng rộng rãi ở khắp thế giới như châu Âu, Singapore, Hồng Kông, Úc và nhiều quốc gia trên thế giới. Rất nhiều quốc gia khác của châu Á và trên thế giới đang điều chỉnh các chuẩn mực của mình để phù hợp hơn với IFRS và giảm thiểu sự khác nhau nếu có.
Hầu hết những người đã được học và/hoặc làm theo các hệ thống kế toán quốc tế hay mang tính thông lệ quốc tế đều cho rằng, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của Việt Nam chỉ nên mang tính hướng dẫn mà không nên mang tính bắt buộc. Thông lệ kế toán quốc tế cho phép ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có trong cùng một định khoản, tuy nhiên không nên lạm dụng việc ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có để mất đi tính rõ ràng của kế toán. Mặc dù không có văn bản pháp quy nào quy định cấm ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có trong cùng một định khoản kế toán, nhưng theo một thói quen từ xưa, rất nhiều DN Việt Nam vẫn tuân theo nguyên tắc này. Tuy nhiên, nhiều DN nước ngoài tại Việt Nam lại không áp dụng.
Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của Việt Nam chỉ quan tâm chủ yếu đến thông tin của báo cáo tài chính cho các nhà đầu tư chứ chưa quan tâm đến thông tin quản trị nội bộ. Theo thông lệ quốc tế, tên gọi tài khoản chính là tên gọi ngắn gọn của số dư tài khoản hay chỉ tiêu cần quản lý. Không ghép chung nhiều chỉ tiêu khác nhau vào chung một tài khoản. Các chỉ tiêu khác nhau phải được ghi chép và báo cáo theo các tài khoản riêng biệt. . Đây là tiêu chí tuyển dụng mà các công ty trong nước yêu cầu với kế toán viên

Khác biệt về trình độ của cân đối kế toán
IAS khác VAS trong hầu hết khoản mục của bảng cân đối kế toán như kế toán tiền, DN ghi độc lập với ngân hàng. Các khoản phải thu thương mại tách biệt với các khoản phải thu từ bán tài sản cố định (TSCĐ). Giá thành phẩm được tính theo phương pháp giá thành thông thường hơn là thực tế và nó không chấp nhận phương pháp LIFO. Các tài sản sinh vật và sản phẩm nông nghiệp thu hoạch từ các tài sản sinh vật được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí điểm bán hàng ước tính. Các khoản chứng khoán thương mại ngắn hạn được ghi nhận theo giá trị hợp lý (giá thị trường) cuối mỗi kỳ, chênh lệch được ghi vào lãi lỗ chưa thực hiện trên báo cáo kết quả. Các khoản chứng khoán sẵn sàng để bán cũng được điều chỉnh theo giá trị hợp lý cuối kỳ, nhưng nó được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán không ghi vào báo cáo lãi lỗ. Việc nhận cổ tức bằng cổ phiếu không ghi tăng thu nhập mà chỉ thuần túy ghi bút toán ghi nhớ làm tăng số lượng cổ phiếu lên, đồng thời giảm đơn giá vốn nhưng tổng giá vốn không đổi.
Các khoản đầu tư bằng trái phiếu được ghi nhận theo giá vốn đã trừ (cộng) khấu hao chiết khấu (phụ trội). Đầu tư vào công ty liên doanh được hợp nhất theo phương pháp hợp nhất tương ứng, giải pháp thay thế là theo phương pháp vốn chủ sở hữu. VAS chỉ đưa ra phương pháp vốn chủ sở hữu. Phương pháp hợp nhất tương ứng khác với hợp nhất thông thường ở chỗ chỉ phần tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí thuộc sở hữu tập đoàn là được đưa vào trong tài khoản báo cáo. Nó không có lợi ích thiểu số (minority interests). Việc hợp nhất các báo cáo tài chính bắt buộc thực hiện cho cả báo cáo năm và báo cáo giữa niên độ.
TSCĐ có thể lựa chọn mô hình giá phí hoặc áp dụng mô hình giá trị hợp lý nếu nó có thể đo lường một cách đáng tin cậy. Chênh lệch giá trị hợp lý giữa các kỳ được ghi vào vốn chủ sở hữu. Riêng đối với bất động sản đầu tư, chênh lệch này được phép ghi vào lãi lỗ trên báo cáo kết quả. Tuy nhiên, khi dùng mô hình giá trị hợp lý, trong phần thuyết minh, DN vẫn phải thuyết minh giá gốc của nó để nhà đầu tư có thể tự đánh giá và so sánh. TSCĐ được cho tặng ghi vào thu nhập phần phù hợp với chi phí để nhận được tiền cho tặng đó (phần khấu hao của kỳ đó chẳng hạn). Khi tài sản cố định hữu hình hoặc vô hình và tài chính bị giảm giá trị, IAS yêu cầu ghi nhận ngay vào chi phí. Theo IAS, đất đai thuộc tài sản hữu hình. Các khoản phải trả thương mại được tách biệt với các khoản phải trả do mua sắm TSCĐ hay mua tài sản tài chính. Khoản phải trả bao gồm cả các khoản thưởng và chi phí phúc lợi cho nhân viên. Vốn chủ sở hữu không bao gồm các quỹ khen thưởng, phúc lợi (Theo VAS trước ngày 31.12.2009 quỹ khen thưởng phúc lợi nằm trong mục lớn Vốn chủ sở hữu, tuy nhiên theo thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31.12.2009 quy định vấn đề này giống như IAS). Các khoản đánh giá lại tài sản được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu.
chuẩn mực kế toán quốc tế và trong nước 
Khác biệt về báo cáo kết quả kinh doanh
Để việc so sánh và quản trị được tốt hơn, theo IFRSs, lãi hoạt động kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các hoạt động kinh doanh thông thường của DN, nó không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính. Chi phí tài chính theo thông lệ quốc tế chỉ đơn giản là chi phí lãi vay và các chi phí trực tiếp liên quan đến vay tiền bao gồm cả việc lãi lỗ do thay đổi tỷ giá ngoại tệ phát sinh từ việc vay tiền như một khoản chi phí lãi vay. Các chi phí khác và thu nhập khác theo IAS bao gồm như bất động sản đầu tư theo mô hình giá trị hợp lý, các khoản chênh lệch giá trị hợp lý cuối kỳ so với đầu kỳ được ghi nhận là lãi lỗ trong báo cáo tài chính kỳ đó. Theo VAS, chỉ áp dụng phương pháp giá gốc trừ đi khấu hao lũy kế. Do vậy, không có khoản lãi, lỗ này phát sinh. Trường hợp tài sản cố định được chính phủ cho tặng, theo IAS, DN chỉ được ghi nhận như một khoản thu nhập trong các kỳ liên quan để phù hợp với các chi phí liên quan (khấu hao) mà chúng được nhận để bù đắp. Theo VAS, nó được ghi nhận toàn bộ thu nhập vào kỳ nhận được tài sản.
Theo IAS, lãi dùng để tính EPS cơ bản là lãi thuần thuộc các cổ đông. Nó không bao gồm các khoản lãi, nhưng được dùng để chia cho nhân viên hay đối tượng khác như quỹ khen thưởng, phúc lợi. VAS không trừ các quỹ này nên rất nhiều tình huống EPS tính theo VAS cao hơn theo IAS khá nhiều thông thường từ 5 - 15%, cá biệt có thể lên đến 30%. Theo IAS, EPS pha loãng và EPS cơ bản phải được trình bày trên bề mặt và nổi bật như nhau trên báo cáo kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay VAS chưa có thông tư hướng dẫn chi tiết, nên các DN vẫn không báo cáo EPS pha loãng trên báo cáo kết quả kinh doanh. Trường hợp chia cổ tức bằng cổ phiếu, khác với IAS, VAS chưa quy định việc điều chỉnh hồi tố EPS. Trong trường hợp đó, việc phân tích xu hướng EPS qua các năm theo số liệu EPS gốc (không điều chỉnh) sẽ bị sai lệnh rất nghiêm trọng.
Theo IAS 27, các báo cáo tài chính hợp nhất phải được lập cho các báo cáo tài chính năm và các báo cáo tài chính tạm thời giữa niên độ. Tuy nhiên, theo VAS, việc lập báo cáo tài chính hợp nhất chỉ bắt buộc đối với báo cáo năm, các báo cáo giữa niên độ chỉ mang tính khuyến khích. Điều này có nghĩa là báo cáo tài chính giữa niên độ có thể không đầy đủ và thiếu chính xác. Đây là một lỗ hổng lớn mà các nhà tạo lập chế độ kế toán phải nhanh chóng chỉnh sửa, tránh những hậu quả lớn cho các nhà đầu tư mà hiện nay họ đang phải gánh chịu. Báo cáo hợp nhất với các công ty liên doanh, theo IAS, các doanh nghiệp nên sử dụng phương pháp hợp nhất tương ứng tuy nhiên có thể sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu. VAS chỉ quy định phương pháp vốn chủ sở hữu.
Chuẩn mực kế toán quốc tế và trong nước

Khác biệt vể báo cáo lưu chuyển tiền tệ
VAS và thông tư hướng dẫn cách lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là lấy từ sổ quỹ tiền mặt và sổ cái tiền gửi ngân hàng tương ứng với các tài khoản đối ứng. Theo thông lệ quốc tế, việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) chỉ căn cứ thuần túy các số liệu trên bảng cân đối kế toán số đầu kỳ và cuối kỳ, báo cáo kết quả (và có thể có thêm một vài thông tin từ sổ cái) sau đó làm các động tác điều chỉnh là ra các chỉ tiêu trên báo cáo LCTT.
VAS hướng dẫn  việc làm lập báo cáo LCTT theo phương pháp gián tiếp bắt đầu từ lãi trước thuế cộng trừ các khoản điều chỉnh trong đó có chênh lệch các khoản phải trả. Mặc dù trong quy định về báo cáo đã yêu cầu các khoản phải trả này không bao gồm các khoản phải trả liên quan đến hoạt động đầu tư và tài chính. Tuy nhiên, do Tài khoản 331 Phải trả cho người bán bao gồm các khoản phải trả thương mại do mua hàng hóa, nguyên liệu cho sản xuất và phải trả cho việc mua sắm tài sản cố định hay mua khác. Khi lập báo cáo LCTT, kế toán viên chỉ lấy số dư cuối kỳ trừ số dư đầu kỳ của Tài khoản 331 này. Do vậy nó làm cho dòng tiền từ hoạt động kinh doanh lẫn lộn với dòng tiền từ hoạt động đầu tư. 

Thách thức của quá trình hội tụ kế toán quốc tế và những kinh nghiệm cho Việt Nam (Phần 1)

01:37 |
Đặt vấn đề Quá trình hội tụ kế toán quốc tế ngày càng được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế về kế toán cũng như các quốc gia trên thế giới. Nhiều quốc gia đã chủ động và tích cực tham gia bằng việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS).
Tuy nhiên, viễn cảnh hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn là cả một quá trình đầy thử thách bởi thực trạng việc vận dụng chuẩn mực của các quốc gia và từng khu vực theo những phương pháp tiếp cận khác nhau. Mặc dù viễn cảnh hội tụ kế toán quốc tế còn nhiều cản trở phải hướng tới để đạt được mục tiêu chung nhưng phải thừa nhận rằng hội tụ kế toán quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển. Trước tình hình đó, một quốc gia đang phát triển như Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy của xu hướng này. Song, Việt Nam cần phải nhận định đúng đắn tình hình để có những lộ trình thích hợp, đáp ứng phát triển kinh tế.
1. Tiến trình hội tụ kế toán quốc tế
Hội tụ kế toán quốc tế về cơ bản tiến triển qua các thời kỳ, cụ thể từ 1973 – 1989 là giai đoạn đầu của hòa hợp kế toán quốc tế khi Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) được thành lập. Hòa hợp ở giai đoạn này chủ yếu là thu hẹp sự khác biệt kế toán các quốc gia bằng việc áp dụng chuẩn mực kế toán (CMKT) cho phép nhiều sự lựa chọn nhằm thích nghi kế toán ở các quốc gia. Tuy nhiên, chính sự “dễ dãi” này của IASC đã không đáp ứng được thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) cho người sử dụng. Trước sức ép của những người sử dụng thông tin trên BCTC cũng như tìm kiếm sự ủng hộ của các quốc gia và các tổ chức trên thế giới, giai đoạn 1989 – 1993, IASC đã có nhiều sự cải thiện đáng kể bằng việc giảm dần sự lựa chọn các phương pháp, nguyên tắc trong CMKT. Do giảm các lựa chọn nên các CMKT của IASC đã đảm bảo tính so sánh thông tin trên BCTC. Sau đó, giai đoạn 1993 - 2001, IASC đã tái cấu trúc để hình thành Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Mục đích của IASB nhằm phát triển hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế, hình thành kỷ nguyên mới hướng tới hội tụ kế toán toàn cầu.
Từ đó đến nay, quá trình hội tụ kế toán quốc tế ngày càng được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế về kế toán cũng như các quốc gia trên thế giới. Ngay những năm đầu 2005, hệ thống IAS/IFRS đã được áp dụng một cách phổ biến với 65 quốc gia ở châu Âu, Úc, Nam Phi, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á vv... đang thực thi việc áp dụng. Theo điều tra được thực hiện bởi công ty kiểm toán Deloitte (2010) với 173 quốc gia, kết quả cho thấy 123 quốc gia bắt buộc và yêu cầu áp dụng IAS/IFRS. Nếu so với những năm trước, số lượng các quốc gia áp dụng IAS/IFRS ngày càng gia tăng đáng kể.
2. Thách thức hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn
Hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn đầy thử thách, vẫn còn một khoảng cách nhất định để đạt được mục tiêu chung nhằm xây dựng chuẩn mực quốc tế chất lượng cao. Quá trình đó là bài toán phức tạp và nan giải bởi chúng xuất phát từ nhiều nguyên do khác nhau về môi trường kinh doanh, pháp lý và văn hóa trong mỗi quốc gia. Do đó, xu thế hội tụ kế toán của một số quốc gia có thể thống nhất trong chuẩn mực nhưng chưa hoàn toàn nhất quán trong thực tế.
2.1. Liên minh châu Âu

Từ những năm 1995, Liên minh châu Âu (EU) đã bắt đầu có chiến lược hội nhập kế toán. EU đã áp dụng CMKT quốc tế được IASC ban hành với mục đích thiết lập chuẩn mực được chấp nhận bởi thị trường vốn toàn cầu. Tháng 6.2000 EU đã đề nghị các công ty niêm yết lập BCTC hợp nhất theo IAS/IFRS nhưng từng IAS/IFRS phải được xác nhận và thông qua luật tổ chức EU theo qui trình tổ chức riêng biệt. Ngoài ra, tháng 3.2011, Tổ chức tư vấn BCTC của EU công bố chi tiết tiến trình hội tụ với IASB về các nội dung liên quan đến công cụ tài chính, thuê tài chính, điều kiện ghi nhận doanh thu và hợp đồng bảo hiểm. Đến 11.2011, Tổ chức này đang chờ thông qua các IFRS 1, IFRS 9, IFRS 10, IFRS 11, IFRS 12, IFRS 13 và đang chờ chỉnh sửa IAS1, IAS 12, IAS 19, IAS 21, IAS 28 cũng như điều chỉnh IFRIC 20.
Như vậy có thể thấy, về nguyên tắc chung EU áp dụng hoàn toàn với IAS/IFRS tuy nhiên việc EU thông qua từng IAS/IFRS tạo nên hệ thống chưa thật sự đồng bộ so với IAS/IFRS bởi còn một số IAS/IFRS và các hướng dẫn chưa được thông qua. Vì vậy tính thống nhất trong hệ thống chuẩn mực chưa hoàn chỉnh. Do đó, CMKT của các quốc gia EU cũng khó được nhất quán và điều này dẫn đến việc áp dụng các nguyên tắc, qui định kế toán vào thực tế của các công ty sẽ tạo ra những khác biệt nhất định.
Để làm sáng tỏ những nội dung trên, trong báo cáo của EC về việc thực thi IAS/IFRS của EU được công bố tháng 10.2007, EC đã sử dụng mô hình với 200 công ty niêm yết của 25 quốc gia trong EU của năm 2005 và 2006. Theo kết quả báo cáo, mặc dù các công ty đều áp dụng IAS/IFRS hoặc IAS/IFRS-EU (IAS/IFRS được thông qua bởi EU) nhưng các công ty của các quốc gia có những khác biệt nhất định, cụ thể: các BCTC của các công ty trình bày không rõ ràng; thiếu công bố về chính sách kế toán hoặc có công bố nhưng không phù hợp; những khác biệt trong chính sách kế toán của các công ty đối với ghi nhận doanh thu; phân loại tài sản tài chính, tài sản tài chính sẵn sàng để bán… Trên cơ sở đó, để tiếp tục đánh giá mức độ áp dụng của các công ty trong các quốc gia EU theo thời gian, EC đã phân tích 270 BCTC các quốc gia công bố năm 2006 và 2007 trong EU được EC công bố tháng 12.2008. Kết quả cho thấy những khác biệt cơ bản vẫn tồn tại trong thực tế trên BCTC của các công ty. Qua tổng kết hai báo cáo của EC, nhìn chung mức độ áp dụng trong thực tế của các công ty trong EU vẫn còn những khác biệt đáng kể. Điều đó phản ánh thực trạng rằng mặc dù áp dụng IAS/IFRS trong cùng khu vực kinh tế EU nhưng mức độ có thể khác nhau ở cấp độ quốc gia và thực tế các công ty.
Ngoài ra, để nhìn nhận một cách khách quan, một nghiên cứu độc lập của Erlend Kvaal và Christopher Nobe (2009) đã đánh giá sự khác biệt trong thực tế về chính sách kế toán của IAS/IFRS của các quốc gia. Nghiên cứu đã sử dụng các BCTC của các công ty “blue chip” của 5 thị trường chứng khoán (TTCK) lớn nhất trong năm 2005 và 2006 với 5 quốc gia Úc, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Anh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng IAS/IFRS trong thực tế còn những khác biệt đối với các quốc gia khác nhau. Như vậy, rõ ràng trong thực tế, các quốc gia được sử dụng trong nghiên cứu đã đi ngược lại mục tiêu chung là xây dựng chuẩn mực toàn cầu chất lượng cao. Hơn nữa, Stefano Cascino (2009), đã phân tích thực nghiệm về sự khác biệt trong thực tế kế toán của các công ty niêm yết Đức và Ý. Mô hình nghiên cứu chọn mẫu 354 công ty áp dụng IAS/IFRS của Đức và Ý từ năm 1998 đến 2008. Nghiên cứu thực nghiệm đã đi đến kết luận rằng các công ty Đức, Ý áp dụng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) quốc gia hơn là thực thi IAS/IFRS. Đồng thời, nghiên cứu đã minh chứng sự khác biệt trong thực tế ở mức độ quốc gia, khu vực và ngay cả đối với thực tế các công ty.
Có thể thấy, các quốc gia EU vẫn bảo lưu những quan điểm riêng trong hệ thống kế toán khu vực mặc dù EU rất tích cực tham gia quá trình xây dựng IAS/IFRS. Hội tụ kế toán quốc tế như hình thức của EU là một phương pháp tiếp cận riêng của các quốc gia trong cùng khu vực. Mặc dù trên nguyên tắc chung EU áp dụng nguyên bản IAS/IFRS nhưng vấn đề ở chỗ EU không chấp nhận toàn bộ IAS/IFRS mà phê duyệt từng chuẩn mực để áp dụng. Không những thế, thực tế các công ty của các quốc gia trong EU vẫn có những khác biệt đáng kể.
2.2. Mỹ
Hoạt động hướng tới hội tụ của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính của Mỹ (FASB) từ những năm 2002 - 2004 phải kể đến là thỏa hiệp Norwalk giữa IASB và FASB để phát triển chuẩn mực chất lượng cao. Thỏa hiệp đã nhất trí các nội dung cơ bản là tiếp tục hợp tác trong tương lai; thực hiện những dự án chung; hạn chế những khác biệt giữa nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung của Mỹ (US GAAP) và IAS/IFRS. Tuy nhiên, quá trình hợp tác là một thử thách lớn bởi tính pháp lý, sự can thiệp của các tổ chức thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa… ảnh hưởng nhất định đến lộ trình hội tụ. Một trong những vấn đề gây cản trở đó là hệ thống kế toán của Mỹ trên cơ sở qui định (rules-based) trong khi IAS/IFRS theo những nguyên tắc (priciples-based). Bên cạnh đó, hệ thống kế toán của Mỹ thực thi theo các qui định nên được hướng dẫn một cách chi tiết trong khi IAS/IFRS hạn chế những hướng dẫn. Ngoài ra hệ thống kế toán Mỹ bị chi phối bởi luật chứng khoán… Quá trình hội tụ cho thấy nhiều vấn đề khó khăn nhất định.
Mặc dù tiến trình hội nhập gặp những khó khăn nhất định nhưng Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) đã có những động thái tích cực đối với IAS/IFRS. FASB và SEC đã thảo luận các vấn đề liên quan đến hội tụ kế toán quốc tế và cũng đã có các buổi họp định kỳ giữa FASB, SEC và IASB để thảo luận hướng phát triển trong thỏa hiệp Norwalk. Ngoài ra, sự hội tụ của Mỹ thông qua SEC đã thấy sự chủ động của Mỹ khi hướng tới hệ thống chuẩn mực quốc tế. Trước đây, các công ty niêm yết sử dụng BCTC khác với Mỹ, khi niêm yết BCTC phải trình bày sự khác biệt lợi nhuận và vốn chủ sở hữu giữa GAAP của quốc gia báo cáo với US GAAP thông qua mẫu 20F (Form 20F). Thời gian gần đây, tiến trình hội tụ của Mỹ cho thấy SEC đã có những nỗ lực và thiện chí nhất định, cụ thể:
- Ngày 22.4.2005, SEC công bố lộ trình hướng tới hội tụ kế toán quốc tế theo IAS/IFRS bằng việc gỡ bỏ qui định các công ty nước ngoài niêm yết tại TTCK Mỹ có BCTC lập theo IAS/IFRS phải chỉnh hợp sang US GAAP theo Form 20F.
- Sau đó, ngày 15.11.2007 SEC đã bỏ phiếu thông qua cho phép các công ty nước ngoài niêm yết tại TTCK Mỹ được áp dụng IAS/IFRS. SEC tiến xa hơn bằng việc công bố lộ trình từ 2014 – 2016 các công ty Mỹ sẽ chuyển sang áp dụng IAS/IFRS.
- Đến ngày 27.8.2008, SEC quyết định chấp nhận sử dụng IAS/IFRS và lộ trình này là cơ sở để hình thành một chuẩn mực toàn cầu.
- Tháng 2.2010 SEC tái khẳng định lộ trình hội tụ trong thời gian đến 2015 – 2016 và vào tháng 7.2011, Chủ tịch SEC đã tuyên bố ủng hộ xây dựng hệ thống CMKT toàn cầu chất lượng cao trên cơ sở các IFRS.
Nhìn chung, sự hội tụ của FASB hướng tới CMKT quốc tế được nhiều người nhận định như phần còn lại của chuẩn mực toàn cầu. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng việc hội tụ là một thách thức lớn đối với cả hai tổ chức và hai tổ chức FASB – IASB đang khẩn trương, nỗ lực chạy nước rút cho tiến trình hội tụ và mọi vấn đề vẫn nằm ở phía trước.
Xem tiếp Phần 2 TẠI ĐÂY
kiemtoan.com.vn

Kỹ năng cần cho kế toán viên

03:03 |

Kế toán là bộ phận không thể thiếu ở tất cả các đơn vị tổ chức. Vì vậy thị trường việc làm của nghề này rất rộng lớn. Theo thống kê, đến năm 2010, nước ta sẽ có khoảng 500.000 doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp cần từ 3-5 kế toán viên…Như vậy, nhu cầu tuyển dụng nhân viên kế toán đang phát trển song song với tốc độ của ngành kinh tế.  Tuy nhiên, để tìm việc làm tốt trong ngành kế toán, bạn cần học hỏi và trau dồi nhiều kĩ năng.
Kỹ năng cần cho một kế toán viên
Có năng lực chuyên môn cao
Đây là những vị trí khá cao trong doanh nghiệp, ngân hàng, hay tổ chức tài chính nên điều trước tiên bạn cần phải có là năng lực chuyên môn cao. Điều này dễ nhìn thấy nhất thông qua tấm bằng tốt nghiệp cao đẳng hoặc đai học chuyên ngành tài chính kế toán. Trải qua quá trình học tập và sau này đi làm tích lũy thêm, bạn phải có những kiến thức, kinh nghiệm, có khả năng lập báo cáo và trình bày báo cáo kế toán, khả năng thống kê, phân tích tài chính, khả năng lập và phân tích báo cáo kế toán cũng như quản trị tài chính doanh nghiệp…
Thành thạo máy tính và tiếng Anh
Đây là hai chìa khoá vàng cùa mọi ngành nghề chứ không riêng gì nghề kế toán. Để đạt được những vị trí cao trong nghề kế toán như trên, bạn càng cần phải thoả mãn hai điều kiện này. Bạn phải thành thạo các phần mềm vi tính văn phòng đặc biệt là Excel dùng để tính toán, Power Point để thuyết trình và các phần mềm chuyên về kế toán. Tiếng Anh của bạn cũng phải đủ để có thể giao tiếp với các đối tác hay thành viên trong công ty là người nước ngoài và đọc các tài liệu, viết các báo cáo tài chính kế toán.
Khả năng tư duy tốt
 Nhất là tư duy toán học, tư duy logic vì kế toán là một công việc luôn luôn phải tiếp xúc với những con số, những bảng biểu và những phép tính phức tạp.
kỹ năng cần cho kế toán viên

 Cẩn thận và trung thực
Vì công việc của kế toán là xử lý các con số liên quan đến tiền bạc nên chỉ cần sai xót một chút thôi là bạn có thể gây ra những hậu quả khôn lường cho doanh nghiệp của mình. Vậy nên, khi làm việc, bạn phải luôn nhẩm trong đầu câu khẩu hiệu: “Cẩn thận! Cẩn thận! Cẩn thận!”. Cẩn thận từ các bước tính toán cho đến những chi tiết nhỏ như viết số rõ ràng, dễ đọc. Dấu “chấm” và dấu “phẩy” đảo chỗ cho nhau trong một con số là giá trị của nó đã thay đổi rất nhiều rồi. Nhưng hậu quả của việc bất cẩn gây ra còn không nghiêm trọng bằng hậu quả của sự cố tình làm sai hòng mưu cầu lợi ích riêng. Vì vậy, để có thể phát triển trong nghề kế toán thì bạn phải là người rất trung thực. Đây cũng là phẩm chất mà các công ty, đơn vị quan tâm nhất  khi tuyển dụng kế toán viên.
 Chịu được áp lực công việc cao, biết cánh quản lý thời gian
Công việc kế toán trưởng, kế toán tài chính, kế toán tổng hợp là những công việc luôn chân luôn tay luôn đầu óc, nhất là vào gần cuối tháng hay cuối năm, khi mà công ty phải tổng kết thu tiêu, lương bổng cho nhân viên... thì họ càng phải vắt chân lên cổ mà chạy thì mới kịp công việc. Vậy nên, bạn phải có sức khỏe và tinh thần tốt để có thể theo được việc làm kế toán. Bên cạnh đó, bạn phải biết cách sắp xếp thời gian hợp lý để có thể hoàn thành công việc đúng tiến độ mà không hao tổn sức lực nhiều, không để có những khoảng thời gian vô ích.
Khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo
Có được khả năng này thì bạn sẽ dễ dàng hòa đồng với mọi người trong công ty hơn, có thể hợp tác tốt với các thành viên trong phòng, ban của bạn và tạo thiện cảm và có thể là thuyết phục được các đối tác kinh doanh. Kỹ năng này sẽ giúp bạn tiến xa hơn trên con đường thăng tiến.

Kiểm toán không phải là kế toán

03:05 |

Không như kế toán là một công việc mang tính chất ổn định, nhân viên kế toán luôn gắn bó với những số liệu kinh doanh của công ty mình, kiểm toán là một nghề nhiều mới mẻ và thách thức. Nhân viên kiểm toán sau khi hoàn thành công việc của mình ở một doanh nghiệp này, ngay lập tức lại phải đối phó với những bản báo cáo tài chính ở những “địa chỉ” mới.
Có thể nói, đối tượng của kiểm toán trước hết là các tài liệu kế toán. Nhưng công việc xác minh tính trung thực, đúng đắn của các báo cáo tài chính là để hướng tới tất cả các đơn vị, cá nhân quan tâm đến tình hình tài chính của một công ty, tổ chức nào đó.


Chẳng hạn, các cơ quan Nhà nước cần thông tin trung thực để hoạch định chính sách kinh tế phù hợp, các nhà đầu tư cần tài liệu tin cậy để sử dụng đồng tiền của mình đúng mục đích. Người lao động, khách hàng, nhà cung cấp cần hiểu thực chất về kinh doanh và tài chính, chế độ tiền lương của công ty mình để làm việc. Những người quan tâm này lại không có nghiệp vụ về tài chính, kế toán. Và chỉ nhân viên kiểm toán mới có thể giúp được họ.
Kiểm toán dùng các phương pháp đối chiếu, logic, diễn giải thông tin, điều tra, quan sát, kiểm kê, thử nghiệm để xác minh tính trung thực của tài liệu và tính pháp lý của các báo cáo tài chính của một công ty, tổ chức nào đó.
Kiểm toán gồm 3 chức năng chính:
- Xác minh tính trung thực và tính pháp lý của các báo cáo tài chính.
- Bày tỏ ý kiến về tính trung thực và mức độ hợp lý của các thông tin tài chính, kế toán.
- Tư vấn cho các nhà quản lý. Bằng việc chỉ ra sai sót, yếu kém, kiểm toán viên gợi mở, đề xuất các biện pháp khắc phục để các công ty, tổ chức làm ăn hiệu quả hơn

Bạn hiểu gì về nghề kế toán ?

01:16 |

Việc làm kế toán là gì
Việt Nam đang trong tiến trình đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần đa sở hữu, vận hành theo cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập. Cùng với sự đổi mới kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã và đang cải cách sâu sắc, triệt để tường bước tiếp cận và hòa nhập với nguyên tắc, thông lệ, chuẩn mực phổ biến trên thế giới. Kiểm toán, lĩnh vực hoạt động mới phát sinh từ kế toán, phục vụ yêu cầu của kế toán cũng đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.
Kế toán là công việc ghi chép, thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động kinh tế tài chính của một tổ chức: một doanh nghiệp, một cơ quan nhà nước, một cửa hàng tư nhân…
Công việc của một kế toán viên
Công việc của nhân viên kế toán là ghi chép, hệ thống hoá, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị, giúp nhà quản lý điều hành và quản lý hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị cũng như đề ra các quyết định quản lý kinh tế.
bạn hiểu gì về nghề kế toán
Nhân viên kế toán thu thập thông tin về các hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh ở đơn vị vào chứng từ kế toán.
Mỗi đơn vị có nhiều  bộ phận khác nhau như: Phòng kinh doanh, bộ phận bán hàng, bộ phận vật tư… Các bộ phận này luôn thực hiện các hoạt động kinh tế, tài chính theo chức năng đã quy định. Mỗi hoạt động đó sẽ được ghi chép lại trong các giấy tờ mà kế toán gọi là chứng từ như phiếu thu, phiếu chi tiền mặt, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, hoá đơn bán hàng…
Ghi sổ kế toán
Sổ kế toán của đơn vị dùng để ghi chép tổng hợp các thông tin về tất cả các hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị. Ở mỗi đơn vị có nhiều sổ kế toán, mỗi sổ kế toán được sử dụng để ghi chép khác nhau. Trên cơ sở các chứng từ thu thập được, nhân viên kế toán tiến hành phân loại, tổng hợp để ghi vào các sổ kế toán một cách chính xác.
Tổng hợp làm báo cáo kế toán
Như bạn đã biết, công việc của nhân viên kế toán nhằm mục đích cuối cùng là cung cấp thông tin cho lãnh đạo đơn vị, trên cơ sở đó lãnh đạo đơn vị có thể đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp nhằm thúc đẩy đơn vị ngày càng lớn mạnh. Để thực hiện mục đích này, hàng tháng, hàng quý, năm, nhân viên kế toán phải tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán đã ghi chép, lập thành các báo cáo gửi tới lãnh đạo đơn vị.
Thậm chí ở những đơn vị yêu cầu thông tin phải cập nhật thường xuyên thì kế toán phải làm báo cáo hàng ngày. Báo cáo của kế toán có nhiều loại khác nhau và được gọi chung là Báo cáo kế toán. Đây là yêu cầu quan trọng nhất đối với việc làm kế toán.
Bạn có thể học kế toán ở  Trung tâm đào tạo kế toán Hà Nội, Học Viện Tài Chính, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Học Viện Ngân Hàng, Trường Đại học Thương mại, Trường Đại học Kế Toán TP. HCM, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Quốc Gia TP. HCM…Đây là những địa chỉ tin cậy về đào tạo kế toán tổng hợp.
Ngoài ra, để tìm việc làm tốt trong nghề kế toán, bạn cần tìm một công việc tương tự để thực tập và tích lũy kinh nghiệm trong thời gian học. Nếu đã có chút ít kinh nghiệm làm việc, bạn sẽ gây được ấn tượng đối với nhà tuyển dụng.
Triển vọng ngành kế toán trong tương lai.
Mọi đơn vị ở bất cứ lĩnh vực nào trong xã hội đều phải tiến hành công tác kế toán (điều này đã nêu rõ trong Luật Kế toán nước ta). Bởi vậy, nhu cầu về kế toán viên luôn rất lớn. Năm 2010, nước ta có khoảng 500.000 doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp tính trung bình cần từ 4 đến 6 nhân viên kế toán làm việc. Đó là một con số không nhỏ.
Tìm việc làm kế toán, bạn sẽ có một công việc ổn định, một mức lương ổn định, một công việc với môi trường ít thay đổi. Nghề này cực kỳ hợp với nữ giới. Bạn cũng sẽ có nhiều cơ hội được thăng tiến trong nghề nghiệp.

Nghề kế toán có còn hấp dẫn?

01:32 |

Thị trường tài chính – kế toán hiện đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân sự trầm trọng nhất và thu hút sự quan tâm cũng như được bàn tán và phân tích sôi nổi trong suốt một năm vừa qua. Năm 2010, nước ta có khoảng 500.000 doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp tính trung bình cần từ 4 đến 6 nhân viên kế toán làm việc. Đó là một con số không nhỏ. Tuy nhiên, nhân lực ngành này hiện nay đang thiếu và yếu.
Vẫn thiếu nhân lực kế toán – kiểm toán
Chỉ số cầu nhân lực trong quý này tăng 107% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó chỉ số cung,với tốc độ tăng chậm hơn chỉ đạt mức tăng 15% so với quý 4 năm 2006. Mặc dù cả chỉ số cung và cầu trong lĩnh vực này đều tăng nhưng cung không lúc nào đuổi kịp cầu. Đặc biệt là trong vấn đề tuyển dụng ngành kế toán – kiểm toán.
Công việc kế toán không chỉ dừng lại ở việc xử lý các nghiệp vụ phát sinh thực tế mà là sự tài tình với những con số biết nói. Kế toán thuế là công việc không phải nhân viên kế toán nào cũng có thể làm một cách khoa học nhất.  Từ kế toán thực hành nội bộ tới kế toán thuế không chỉ là kiến thức thực tiễn mà là sự cân đo, đong đếm giữa thực thu và thực chi. Đòi hỏi các kế toán viên phải nhạy bén trên các chứng từ, hoá đơn thuế có giá trị pháp lý.
nghề kế toán có còn hấp dẫn?

Câu “trăm hay không bằng tay quen” đúng nhưng chỉ phù hợp với một phạm vi nào đó, công việc kế toán lại đòi hỏi nhanh nhẹn và sự phấn đấu hết mình. Đặc biệt trong thời đại hiện nay thì thời gian trong công việc lại càng quý báu hơn. Rút ngắn thời gian tích luỹ kinh nghiệm để đến nhanh hơn tới mục tiêu phấn đấu.  Đó chính là sự tìm tòi học hỏi những người có kinh nghiệm đi trước,  truyền đạt lại nghề mà họ đã trải qua. Cùng với bản thân tự trau dồi kinh nghiệm và nhạy cảm nghề nghiệp. Đây sẽ là những bước đi cần thiết sau khi bạn đã tìm việc làm thành công để có thể trở thành một kế toán viên giỏi.
Học hỏi và tìm tòi cái mới là chìa khóa mở cánh cửa kế toán cao cấp.
Muốn một kế toán lâu năm trong nghề truyền đạt lại kinh nghiệm nghề nghiệp không phải là một công việc đơn giản. Không đơn giản ở chỗ, đó chính là bí quyết để họ có một chỗ đứng vững chắc cũng như sự thăng tiến trong công ty hoặc đơn vị làm việc. Những kế toán viên mới ra trường sẽ non kém kinh nghiệm và dễ mắc sai lầm. Vì vậy, đừng vội vàng đòi hỏi một vị trí cao trong công ty lớn. Kế toán viên trẻ nên lập kế hoạch cụ thể cho hướng phát triển nghề nghiệp của mình và nghiêm túc thực hiện nó. Yêu cầu đầu tiên là phải tranh thủ những công ty, đơn vị nhò để tích lũy kinh nghiệm cũng như củng cố chuyên môn thực tế với việc làm kế toán. Vì nhu cầu nhân lực hiện nay được các nhà tuyển dụng đưa ra không chỉ là về kĩ năng chuyên môn mà còn quan tâm tới lối sống, dạo đức nghề nghiệp của ứng viên. Khi đã thật sự vững vàng với trình độ kế toán cao, các công ty sẽ  sẵn sàng đón bạn để giao trách nhiệm về tài chính của đơn vị mình. Vì vậy, cách tốt nhất là hãy chuẩn bị cho mình một vốn kiến thức tiệm cận nhất với yêu cầu của nhà tuyển dụng.

Tổng số Khách

Quảng Cáo/ Thông Báo của lớp báo k32

Labels

About This Blog

dich vu ke toan gia redao tao ke toan tong hop

Blogroll



Free Auto Backlink Exchange Service Vietnam Backlinks Free Backlink Exchange For Seo
Topics :
Dịch vụ kế toán | Đào tạo kế toán | Dịch vụ GPS

HỖ TRỢ: MR.TUẤN

0979.16.35.30
hỗ trợ qua yahoo