Nợ xấu trên địa bàn TP HCM đang tăng cao

02:24 |

Nợ khó đòi đang gia tăng khi nhiều doanh nghiệp khó cầm cự vì lạm phát cao, chi phí vốn đắt đỏ, thị trường địa ốc đóng băng…
2889fb20 22ea 4421 a64e f773e83c33dd Nợ xấu trên địa bàn TP HCM đang tăng cao
Theo số liệu báo cáo của UBND TP HCM, tính đến cuối tháng 3, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại trên địa bàn khoảng 36.924 tỷ đồng, chiếm 4,9%, so với cuối năm 2011 là 4,3%. Số lượng doanh nghiệp đang vay vốn tại các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố là hơn 23.000 đơn vị, với tổng dư nợ đạt trên 424.000 tỷ đồng.
Trong số đó có trên 1.400 đơn vị phát sinh nợ xấu, với tỷ lệ 5,8% tổng dư nợ, tập trung cao nhất là lĩnh vực bất động sản, xây dựng (4.000 tỷ đồng).
Một chuyên gia là thành viên hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cho rằng, trước đây nhiều nhà băng quá chú tâm vào việc cho vay bất động sản vì nghĩ đây là "mảnh đất béo bở". Song thời điểm này, vốn cho lĩnh vực bất động sản bị siết chặt, bong bóng bất động sản vỡ. Nhiều dự án đóng băng khiến các doanh nghiệp địa ốc điêu đứng… Điều này khiến cho tỷ lệ nợ xấu trong ngân hàng tăng cao.
Theo lãnh đạo thành phố, việc gia tăng nợ xấu đã tác động trực tiếp đến tình hình tài chính, thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng đến quá trình mở rộng tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế nói chung.
Do đó, trong quý một vừa qua, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố chỉ đạt gần 768.000 tỷ đồng, tăng 0,43%. Trong đó, dư nợ bằng ngoại tệ hơn 207.000 tỷ đồng, tăng 0,14% so với cuối năm 2011, dư nợ bằng tiền đồng là 560.000 tỷ đồng, tăng 0,54% so với cuối năm ngoái.
Riêng tổng huy động vốn trên địa bàn TP HCM đạt hơn 900.000 tỷ đồng, tăng 1,3% so với cuối năm 2011. Trong đó, vốn huy động bằng ngoại tệ khoảng 210.000 tỷ đồng, tăng 3,3% so với cuối năm ngoái, còn huy động tiền đồng đạt gần 689.000 tỷ đồng, tăng 0,65% so với 2011.
Lãnh đạo thành phố cho rằng, hiện nay trần lãi suất huy động đã về 12% mỗi năm, lãi suất cho vay cũng có sự điều chỉnh nhưng vẫn ở mức cao khiến khả năng tiếp cận về vốn của doanh nghiệp hạn chế. Cụ thể, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 17,3-20,7% mỗi năm; trung dài hạn là 18,30-21,8% một năm. Riêng lãi áp cho doanh nghiệp xuất khẩu và nông nghiệp, nông thôn thấp hơn 0,5-1,5%.
Để giảm nhanh lãi suất tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay sản xuất kinh doanh, lãnh đạo TP HCM kiến nghị Ngân hàng Nhà nước thanh kiểm tra lãi suất của các tổ chức tín dụng để thực hiện việc tuân thủ trần 12%. Đồng thời chỉ đạo cụ thể nhằm giảm lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh xuống 14-15%.
Ngoài ra, lãnh đạo TP HCM cũng cho rằng, Chính phủ nên chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp xử lý nợ xấu và hạn chế rủi ro trong hệ thống ngân hàng.
Theo Cafef

Cuộc khủng hoảng kinh tế mới sẽ xảy ra vào tháng 9?

20:36 |

Cuộc khủng hoảng kinh tế mới xảy ra vào tháng 9

Cuộc khủng hoảng mới của nền kinh tế toàn cầu có thể sẽ xảy vào tháng 9, vì trong lịch sử, các cuộc khủng hoảng đều xảy ra vào tháng này.

Các nhà kinh tế của IMF đã nghiên cứu lịch sử tất cả các thảm họa tài chính toàn cầu và khu vực từ năm 1970-2011. Tuy nhiên cũng còn có một điềm báo khác nữa – đa phần các cuộc khủng hoảng đều diễn ra vào năm trước bầu cử ở những nước lớn. Mà năm nay, ai cũng biết rằng, sẽ có cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ và sự thay đổi chính phủ theo kế hoạch ở Trung Quốc.
Luke Leuven và Fabian Valencia từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã tiến hành thu thập lượng lớn các sự kiện – hai người đã nghiên cứu 147 cuộc khủng hoảng ngân hàng, 13 trong số đó là của cùng vài nước. Ngoải ra, hai ông cũng nghiên cứu 213 cuộc khủng hoảng tiền tệ và 66 cuộc khủng hoảng nợ công. Phần lớn các cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới đều bắt đầu vào nửa cuối năm và đỉnh điểm của chúng là vào tháng 9 và tháng 12.
Các nhà kinh tế đã quyết định coi những dấu hiệu căng thẳng đầu tiên trong hệ thống ngân hàng là ngày bắt đầu cuộc khủng hoảng. Chẳng hạn, nếu như nói về cuộc khủng hoảng toàn cầu vừa qua, thì ở Mỹ và Anh, khủng hoảng bắt đầu từ 2007, ở Nigieria – 2009 và ở các nước khác bắt đầu vào 2008.
Chính các tác giả của bản nghiên cứu cũng không giải thích nổi vì sao thời điểm bắt đầu khủng hoảng lại cứ rơi vào tháng 9. Tuy nhiên, các tác giả của blog Free Exchange của tạp chí The Economist đã đưa ra một số giả thuyết giải thích: Điều đó có thể liên quan tới thời điểm kết thúc tài khóa ở Mỹ vào 30/10 hàng năm.
Có khả năng điều đó liên quan tới tình trạng hoạt động kinh doanh suy giảm vào mùa hè, các chính trị gia nghỉ phép. Vì sự tạm lắng này, mà việc quyết định những vấn đề kinh tế bức xúc bị hoãn lại.
Nhà kinh tế nổi tiếng – Kenett Rogoff – cho rằng, các cuộc khủng hoảng thường xảy ra vào những năm bầu cử và thường xảy ra vào cuối năm. Các chính trị gia trước đó nhiều tháng đều hoãn giải quyết những vấn đề quan trọng nhất.
Hơn nữa, giống như đã xảy ra ở Hy Lạp, họ cố gắng giấu dân chúng sự thật vàng lâu càng tốt. Điều này có thể đang xảy ra ở Mỹ: ca những người Dân chủ lẫn những người Cộng hòa đều không thể giải quyết các vấn đề về ngân sách của Mỹ cho tới tận bầu cử tháng 11 này. Bởi vậy, ngay năm sau hoặc thậm chí còn sớm hơn nữa, nền kinh tế Mỹ lại rơi vào suy thoái.
Tại Trung Quốc, nơi đang diễn ra những thay đổi của Đảng cầm quyền, lịch sử cũng tương tự.
Đó là lí do vì sao người ta tin rằng năm nay sẽ xảy ra khủng hoảng – hoặc là vào tháng 9, hoặc là vào tháng 12 – ngay sau thời gian bầu cử ở Mỹ.
Cuộc khủng hoảng ngân hàng đắt giá nhất xảy ra tại Ireland
Trong tất cả 40 năm mà các nhà kinh tế của IMF nghiên cứu, châu Âu là khu vực “yên tĩnh” nhất: trong chừng ấy năm, ở châu lục này chỉ xảy ra có một cuộc khủng hoảng. Nhưng cuộc khủng hoảng ấy cho đến nay vẫn chưa kết thúc và có thể đưa toàn bộ thế giới đến chỗ sụp đổ về tài chính.
Phần lớn các cuộc khủng hoảng đều xảy ra ở các nước châu Phi, Mỹ Latinh – hơn 4 cuộc trong khoảng thời gian 40 năm mà các nhà kinh tế nghiên cứu. Sau đó tới Mỹ và Nga.
Các nước an toàn nhất thế giới là Canada và Australia.
Thời kỳ yên ổn nhất trong 40 năm qua là đầu những năm 2000. tuy nhiên, ngay lúc đó cũng đã phải lo lắng: phía sau sự bùng nổ tín dụng thường là khủng hoảng ngân hàng. Thế là cuối thập niên trước đã xảy ra điều đó.
Cuộc khủng hoảng ở châu Âu hiện nay đã có thể biết trước vào năm 2008. Thường là sau các cuộc khủng hoảng ngân hàng là đến khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ công. Sau 16% các cuộc khủng hoảng ngân hàng trong vòng 3 năm là đến khủng hoảng tiền tệ. Còn 21% các cuộc khủng hoảng ngân hàng đã dẫn tới khủng hoảng nợ công.
Các nhà kinh tế đã xếp hạng những cuộc khủng hoảng đắt giá nhất trong 40 năm qua: các chính phủ phải chi bao nhiêu tiền để khắc phục khủng hoảng, nợ nần đã tăng lên như thế nào và sản xuất sụt giảm ra sao.
Nạn nhân của top 10 cuộc khủng hoảng gần đây chỉ có Ireland và Iceland. Ireland là nhà vô địch – đó là nước duy nhất trong 40 năm qua rơi vào top 10 cuộc khủng hoảng xét trên cả 3 loại (10 cuộc khủng hoảng dẫn tới tăng chi ngân sách nhiều nhất; 10 cuộc khủng hoảng dẫn tới tăng nợ công mạnh nhất; 10 cuộc khủng hoảng làm tổn thất sản xuất nhiều nhất).
Các nước phát triển dựa quá mức vào chính sách kinh tế vĩ mô
Khủng hoảng ở các nước phát triển thường nghiêm trọng hơn – tại các nước này sản xuất giảm mạnh và nợ công tăng nhanh hơn. Tại các nước đang phát triển, khủng hoảng chủ yếu làm suy yếu tiền tệ và chảy vốn đầu tư.
Các nhà kinh tế cho rằng tình trạng này do chính phủ các nước phát triển dựa quá mức vào chính sách kích thích kinh tế vĩ mô. Ví dụ, nếu như chính sách của các nước phát triển nhằm vào việc ngăn chặn tình trạng sản xuất giảm nghiêm trọng, thì các ngân hàng lại không cố gắng nhanh chóng tái cơ cấu tài sản của mình. Điều này sau đó có thể dẫn tới tình trạng trì trệ kéo dài trong nền kinh tế.
Các nước phát triển bảo hiểm cho các nghĩa vụ của ngân hàng. Ngoài ra, họ thường xuyên tái cấp vốn và hỗ trợ thanh khoản. Các nước đang phát triển đối phó với khủng hoảng ngân hàng bằng những phương pháp kém văn minh hơn: chẳng hạn như họ kết đông tiền gửi. Kết quả là, kinh tế các nước đang phát triển suy sụp mạnh hơn, nhưng thay vào đó, nó lại hồi phục nhanh hơn./.

Thị trường vàng “nín thở” chờ động thái từ ECB và dữ liệu kinh tế Trung Quốc

02:49 |

Báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào thứ Sáu tuần này cũng được tập trung theo dõi bởi đó có thể là câu trả lời rõ ràng cho chính sách mà Fed sẽ hành động trong thời gian tới.
Giá vàng thế giới tăng mạnh trong phiên cuối tuần trước sau khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Ben Bernanke cho biết có thể sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ để giảm thất nghiệp. Giờ đây, thị trường đang tập trung theo dõi báo cáo việc làm tháng 8 của Mỹ, cuộc họp của NHTW châu Âu (ECB) cùng các dữ liệu kinh tế của Trung Quốc.
Hôm nay 3/9, thị trường Mỹ và Canada đóng cửa nghỉ Lễ lao động.
Trong tuần đến ngày 31/8, giá vàng giao tháng 12 đã tăng 0,88% lên 1.687,6 USD/ounce. Khảo sát của Kitco với 24 nhà phân tích, thương nhân và nhà đầu tư về xu hướng tuần đầu tháng 9, có 15 người dự báo giá vàng tăng, 6 cho rằng sẽ giảm và 3 người đưa ra ý kiến trung lập.
Tại phiên họp thường niên của Fed diễn ra ở Jackson Hole cuối tuần trước, ông Bernanke đã phát biểu rằng nới lỏng định lượng có thể sẽ giúp thị trường lao động hồi phục đáng kể và rằng NHTW cũng sẵn sàng hành động nếu tình hình tiếp tục xấu đi. Sau tin này, giá vàng tăng vọt lên cao nhất 5 tháng.
Các nhà quan sát thị trường cho rằng, báo cáo việc làm công bố vào thứ Sáu tuần này sẽ là câu trả lời rõ ràng cho chính sách mà Fed sẽ hành động trong thời gian tới. Trong tháng 7, các công ty Mỹ đã tạo mới được 163.000 việc làm và theo khảo sát của Market Watch thì con số trong tháng 8 chỉ là 120.000, với tỷ lệ thất nghiệp ở mức 8,2%.
Ngoài ra, cuộc họp của ECB vào ngày thứ Năm cũng được chú ý không kém khi thị trường đang chờ đợi cơ quan này sẽ thực hiện chương trình mua trái phiếu như chủ tịch Mario Draghi đã nhắc tới hồi đầu tháng 8. Có ý kiến cho rằng, báo cáo tăng trưởng GDP của khu vực đồng tiền chung cùng ngày sẽ quyết định ECB có hành động hay không.
Một loạt các dữ liệu kinh tế quan trọng được phát đi từ Trung Quốc trong tuần này và tuần tới cũng đang được đón chờ như chỉ số PMI, lạm phát, sản lượng công nghiệp, cán cân thương mại, doanh số bán lẻ. Theo các nhà phân tích của Barclays Capital, nếu dữ liệu xấu hơn dự báo, đặc biệt là lạm phát tăng, thì nhiều khả năng chính phủ của ông Ôn Gia Bảo sẽ kích thích nền kinh tế.
Trong lịch sử, các gói kích thích kinh tế thường gắn liền với xu hướng giá lên của vàng. Trong hai lần Fed thực hiện chương trình nới lỏng định lượng kéo dài từ tháng 12/2008 đến tháng 6/2011, giá vàng đã tăng 70%.
Ngọc Toàn
Theo TTVN/Kitco

ALP: Kiểm toán lưu ý về khoản lợi thế thương mại khi mua các công ty con

02:46 |

Xung quanh vấn đề mua các công ty con, kiểm toán ngoại trừ việc xác định lợi thế thương mại phát sinh. Kiểm toán đồng thời lưu ý về các khoản lợi thế thương mại chưa được phân bổ chi phí trong kỳ.
Công ty Cổ phần Đầu tư Alphanam (ALP) công bố báo cáo bán hợp nhất có soát xét.
Xung quanh vấn đề mua các công ty con, kiểm toán ngoại trừ việc xác định lợi thế thương mại phát sinh. Theo đó, ALP chưa thực hiện xác định lại giá trị tài sản thuần của các công ty con tại ngày mua theo giá trị hợp lý. Do vậy lợi thế thương mại phát sinh khi mua các công ty con đang được xác định trên cơ sở giá phí hợp nhất kinh doanh trừ giá trị tài sản thuần theo sổ kế toán thay vì trừ giá trị tài sản thuẩn theo giá trị hợp lý (quy định tại chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 – “hợp nhất kinh doanh”)
Kiểm toán đồng thời lưu ý về các khoản lợi thế thương mại chưa được phân bổ chi phí trong kỳ. Các khoản lợi thế thương mại trong hoạt động mua các công ty con, sở dĩ chưa được phân bổ chi phí là do thời điểm mua từ 26-30/6/2012. Khoản lợi thế thương mại này sẽ dần được phân bổ vào chi phí trên báo cáo hợp nhất của ALP từ 1/7/2012 với thời gian phân bổ không quá 10 năm.
Theo bảng cân đối kế toán, khoản lợi thế thương mại tăng thêm của ALP khi mua các công ty con so với đầu kỳ là 1.600 tỷ đồng.
6 tháng đầu năm 2012, ALP báo lỗ trước thuế 54,5 tỷ đồng, trong đó 29 tỷ đồng là khoản lỗ từ các công ty liên kết, liên doanh. Cùng kỳ 2011, ALP lãi trước thuế 2,1 tỷ đồng. Tính đến cuối quý 2/2012, lợi nhuận chưa phân phối của ALP đạt 63,4 tỷ đồng.
Minh Thư 
Theo TTVN/HSX

Thị trường căn hộ: Càng giảm giá, càng khó bán?

02:43 |

Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Đực cho rằng không biết sẽ chịu đựng được bao lâu nếu tình hình này kéo dài, và rất có thể từ nay đến cuối năm sẽ có một số doanh nghiệp sụp đổ.
Dù thị trường bất động sản nhìn chung vẫn nguội lạnh nhưng áp lực cạnh tranh trên thị trường căn hộ ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM đang nóng dần khi nhiều doanh nghiệp đang phải hạ giá bán để thu hút người mua, cắt lỗ.
Tuy nhiên, trước một thị trường sức mua suy giảm, cộng với việc bán tháo cắt lỗ của một số nhà đầu tư thứ cấp với giá bán thấp hơn giá chủ đầu tư đưa ra đang đẩy nhiều công ty bất động sản vào thế khó khăn. Nói như ông Nguyễn Văn Đực, Phó giám đốc Công ty địa ốc Đất Lành, thì việc "nội công ngoại kích" có thể khiến nhiều công ty sụp đổ trong thời gian tới bởi phần lớn đã kiệt sức trong 2-3 năm vừa qua.
Đua nhau hạ giá
Giống như năm 2009, thị trường căn hộ vẫn chứng kiến dự án của Công ty Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) nổ phát pháo hạ giá bán căn hộ, mở đường cho các đợt giảm giá tiếp theo của nhiều dự án khác. Sau hơn hai năm mua sỉ căn hộ dự án chung cư cao cấp Hoàng Anh Riverview tại phường Thảo Điền, quận 2, TPHCM, hai nhà đầu tư thứ cấp là Công ty Đại Tín Á Châu và An Bình Land vừa quyết định hạ giá bán 120 căn hộ từ 28 triệu đồng xuống còn 18,2 triệu đồng/mét vuông, giảm khoảng 35% so với giá năm 2009.
Đây là một trong hai dự án HAGL tạo ra cú sốc trên thị trường trong năm 2009 khi quyết định giảm giá 40%, từ 2.300 đô la Mỹ (khoảng 49 triệu đồng)/mét vuông xuống còn 1.350 đô la Mỹ (khoảng 28 triệu đồng)/mét vuông. Như vậy sau hai lần giảm giá, căn hộ dự án Hoàng Anh Riverview đã giảm 60% so với mức giá chủ đầu tư đưa ra.
Trong khi đó tại Hà Nội, giá bán căn hộ ở một số dự án đã giảm đến 40% so với thời điểm năm 2010. Chẳng hạn, căn hộ tại chung cư Tân Việt đang được chào bán với giá 12 - 14 triệu đồng/mét vuông, trong khi giá chào bán trước đó là 14 - 15,5 triệu đồng/mét vuông.
Tương tự, tại TPHCM các nhà đầu tư thứ cấp dường như đã không chịu nổi áp lực tài chính từ nguồn vốn vay ngân hàng, nên sau thời gian “nằm im, nghe ngóng” cũng đã bắt đầu có dấu hiệu xả hàng, bán tháo hàng.
Dự án The Pride trên đường Lê Văn Lương, quận Hà Đông đang được chào bán ở mức 17 - 18 triệu đồng/mét vuông, trong khi giá chủ đầu tư đưa ra là 20 - 21 triệu đồng/mét vuông. Tương tự, tổ hợp chung cư Dương Nội của Tập đoàn Nam Cường hiện đang được chào bán với giá dưới 18 triệu đồng/mét vuông, trong khi giá tại thời điểm mở bán là 22 triệu đồng/mét vuông. Đặc biệt là dự án Nam An Khánh có thời điểm giá thị trường lên đến gần 50 triệu đồng/mét vuông thì nay chỉ còn 23-25 triệu đồng/mét vuông.
Ông Phạm Trung Hà, Giám đốc Công ty bất động sản Hòa Phát, cho rằng mặc dù đã có những dự án được chào bán với giá thấp hơn giá bán chủ đầu tư công bố trước đó, song cũng khó có khả năng xảy ra hiện tượng bán tháo để rút khỏi thị trường của các chủ đầu tư. Bởi lẽ bản thân xu hướng và giá bán bất động sản gắn chặt với nhu cầu thị trường.
Theo ông Hà, trước đây giới đầu cơ chiếm tới 70% trong khi đó nhu cầu thực chỉ có 30% đã tạo ra những thông tin khan hiếm hàng và nguồn cung hạn chế đã đẩy giá nhà lên cao. Tuy nhiên, trong tình hình thị trường gặp khó khăn hiện nay, giới đầu cơ không còn hứng thú với việc lướt sóng thị trường thì cán cân nhu cầu thay đổi với người mua nhà để ở chiếm ưu thế. Do vậy, các chủ đầu tư phải cân nhắc giảm bớt lợi nhuận của mình nhằm tiếp cận những người có nhu cầu mua thực.
Tuy nhiên, ông Đực của Đất Lành cho rằng chưa hẳn những chiêu giảm giá bán đã có tác dụng, vấn đề là sản phẩm phù hợp với túi tiền của người mua.
Càng giảm giá, càng khó bán?
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội bất động sản TPHCM, cho rằng đã qua rồi cái thời nhiều doanh nghiệp địa ốc hưởng siêu lợi nhuận. Giá bán căn hộ hiện nay đã về khá sát với giá thành xây dựng.
Một số chủ đầu tư đang cố dò thị trường bằng các đợt giảm giá nhưng cũng chưa tìm được nhiều người mua như mong muốn. Chẳng hạn như dự án chung cư có giá trung bình tại quận Tân Phú của Công ty Lê Thành. Sau khi chào bán với giá 13,9 triệu đồng/mét vuông không có kết quả, công ty này quyết định giảm xuống còn 11,9 triệu đồng/mét vuông, nhưng chỉ bán được vài căn trong số 50 căn đưa ra thử sức mua của thị trường.
“Điều đó nói lên sức mua trên thị trường đang kiệt quệ, và đang rất xấu đối với các chủ đầu tư”, ông Châu nhận định. Ông cho rằng có doanh nghiệp thậm chí bán lỗ nhưng vẫn không bán được hàng tại thời điểm này.
Hơn nữa, thông tin về những đợt giảm giá vừa qua, theo ông Châu, có thể sẽ tiếp tục tạo hiệu ứng tâm lý trên thị trường, khiến người mua chờ đợi. Điều này có nghĩa hàng càng giảm giá càng không bán được.
Trên thị trường hiện có hai nguồn lực tài chính, gồm tín dụng ngân hàng và nguồn vốn huy động từ khách hàng. Tuy nhiên hiện cả hai nguồn này đang bế tắc, khiến nhiều chủ đầu tư thiếu vốn để hoàn thành dự án.
Theo ông Đực, đây là thời điểm các doanh nghiệp địa ốc cần vốn để hoàn thiện dự án, nhưng cũng chính thời điểm này nhiều công ty không bán được hàng. Nếu không tính tiền đất và đầu tư hạ tầng, việc xây xong phần thô, thậm chí cất nóc dự án cũng mới chỉ chiếm 40% vốn đầu tư của dự án, phần hoàn thiện chiếm phần vốn không nhỏ.
Mới đây tại thị trường Hà Nội, chủ dự án căn hộ FLC Landmark Tower đã phải ra "tối hậu thư" cho khách hàng của mình là sẽ thu hồi và bán thanh lý các căn hộ nếu người mua không đến đóng tiền đợt cuối.
Theo ông Châu, đa phần những nhận định mang tính chủ quan bởi không có số liệu thống kê, đánh giá sức khỏe của các doanh nghiệp địa ốc. Tuy nhiên, hai năm qua và có thể cả năm sau sẽ là năm cực kỳ khó khăn cho các công ty địa ốc, và nếu doanh nghiệp nào cầm cự được mới hy vọng thấy được sự phục hồi nhẹ vào năm 2014.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Đực cho rằng không biết sẽ chịu đựng được bao lâu nếu tình hình này kéo dài, và rất có thể từ nay đến cuối năm sẽ có một số doanh nghiệp sụp đổ.
Theo Thoa Nguyễn - Phạm Lệ
TBKTSG

Ts. Trần Du Lịch: Bức tranh kinh tế 2013 không quá ảm đạm

02:41 |

4 tháng cuối năm CPI tăng mỗi tháng 1% là nằm trong dự báo. 8 tháng doanh nghiệp giải thể và dừng hoạt động tăng 7,1% là đáng lo ngại; lãi suất huy động VND khó kéo sâu hơn mức 9% hiện nay.
Cuối tuần qua, tại Tp. Hồ Chí Minh, VCCI và Laisuat đã tổ chức buổi hội thảo: Ngân hàng và doanh nghiệp – khơi thông nguồn vốn. Tại hội thảo này, Tiến sĩ Trần Du Lịch đã có bài trình bày về “Kinh tế Việt Nam: Tình hình và triển vọng”.

4 tháng cuối năm CPI tăng mỗi tháng 1% là nằm trong dự báo

Theo quan điểm của Ts. Trần Du Lịch, đến hết tháng 8 CPI đã tăng 2,86%, nếu Chính phủ không có động thái gì, thêm 4 tháng còn lại CPI sẽ tăng khoảng 5-6% so với so với tháng 12/2011.

Nhưng chúng tôi đã đề xuất từ tháng 5  là phải chuyển chính sách từ lạm phát thụ động sang chính sách lạm phát chủ động, tức là chúng ta kích thích để có CPI cả năm 2012 khoảng 7-8%. 

Vì vậy trong những tháng tới, nếu CPI tăng 1%/tháng chúng ta không nên lo lắng bởi nó nằm trong kế hoạch dự báo. 

Thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp FDI ổn định hơn doanh nghiệp trong nước

8 tháng kim ngạch xuất khẩu đạt 73,4 tỷ USD, tăng hơn 17% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý, từ tháng 6 về trước xuất khẩu tăng rất cao 24 – 25%; tháng 7 và tháng 8 kim ngạch xuất khẩu đã bắt đầu giảm dần. 

Nguồn: Số liệu Hải Quan Việt Nam, riêng tháng 8 số liệu GSO. Q. N

Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng mạnh ở khu vực doanh nghiệp FDI, còn doanh nghiệp trong nước gần như không thể tăng. Điều này cho thấy, thị trường xuất khẩu của khu vực FDI ổn định hơn thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước. 

Về thị trường nội địa, 8 tháng tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng 17,9%, nếu loại yếu tố giá tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng 6,8%. Như vậy, sức mua thực tăng 6,8% - đây là điều không qua tệ đối với thị trường Việt Nam. 

8 tháng doanh nghiệp giải thể và dừng hoạt động tăng 7,1%

Đối với thị trường tiền tệ, trong 8 tháng, tổng phương tiện thanh toán M2 tăng 10,3% nhờ tiền gửi tăng. Tuy nhiên, tín dụng tăng 1,4%, huy động vốn tăng 10,26%. Điều này cho thấy thị trường tiền tệ đang bị nghẽn.  

Trong khi đó, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 28/08, 8 tháng đầu năm có 46.000 doanh nghiệp lập mới, có 35.483 doanh nghiệp giải thể và dừng hoạt động, tăng so với cùng kỳ năm trước 7,1%. Đây là vấn đề đáng lo ngại. 

Hiện Việt Nam có khoảng 670.000 doanh nghiệp, trong đó 470.000 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm 70% tổng số doanh nghiệp. Như vậy, số doanh nghiệp lập mới chiếm khoảng 7% số tổng doanh nghiệp là một mức trung bình ở nhiều nước. 

Dự báo cho những tháng cuối năm 2012

Ts. Trần Du Lịch cho rằng, từ nay đến cuối năm, Chính phủ vẫn điều hành theo Nghị quyết 13, CPI những tháng cuối năm sẽ tăng trở lại nhưng cả năm ở mức 7-7,5% so với tháng 12/2011l; lãi suất không thể giảm sâu; tỷ giá khá ổn định. 

Lãi suất huy động khó kéo sâu hơn nữa - ở mức 9%/năm, bởi lạm phát kỳ vọng 7,5% thì lãi suất huy động 9% đã giữ được mức lãi suất dương. Nếu giảm lãi suất nữa, nguy cơ người dân đầu tư sang vàng và USD.

Ông Trần Du Lịch cho rằng, dư nợ tín dụng cuối năm tăng khoảng 10% là không khả thi. Bởi mỗi tháng tăng 2% dư nợ - khoảng 100.000 tỷ đồng là không thể, khả năng hấp thu về vốn khá chậm, trừ khi Chính phủ cho khoanh nợ một số đối tượng: doanh nghiệp đang thế chấp nhà máy, không trả được nợ và trở thành nợ xấu, Chính phủ cho phép khoanh nợ và vay mới.

Về chính sách tài khóa, vấn đề đặt ra hiện nay là giảm thu. 

13 tỉnh thành có thặng dư ngân sách: tổng thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp trừ (-) chi thường xuyên dương.
Nguồn: Số liệu Bộ Tài chính. Q. N

Hiện, trong 13 tỉnh thành có nguồn thu đóng góp cho ngân sách, có địa phương không thu được như kế hoạch trong đó có Tp. Hồ Chí Minh. Giãn thuế, giãn thời gian nộp thuế.... không có nguồn thu, không thể thực hiện chính sách đầu tư. 

Dự báo thị trường năm 2013?

Những dự báo mới nhất về thế giới: IMF cho rằng kinh tế toàn cầu năm 2013 có thể tăng 3,9% - khá hơn năm 2012 ước chỉ tăng 3,5%; nhưng, một số tổ chức khác cho rằng tăng trưởng toàn cầu không khả quan hơn khoảng 3% - do vẫn còn ảnh hưởng của nợ xấu châu Âu. 

Điều này đồng nghĩa chúng ta không trông chờ vào sự cải thiện thị trường thế giới mà phải tự cứu mình, tìm kiếm thị trường trong nước.  

Vì vậy, Ts. Trần Du Lịch cho rằng, năm 2013, kinh tế Việt Nam vẫn ở mức tăng trưởng chậm, tạm gọi là còn trì trệ. 

Về thị trường: đầu tư chưa tăng nhanh được; sức mua tăng chậm; thị trường bất động sản vẫn ì ạch – do hậu quả của bong bóng bất động sản, nợ xấu ; thị trường chứng khoán “sớm nắng chiều mưa” do bức tranh vĩ mô. 

Nhìn chung bức tranh 2013 không quá ảm đạm, nhưng cũng không ấm lên một cách rõ nét, nhưng kỳ vọng không xấu hơn. 

Do nguyên nhân sâu xa của lạm phát - lạm phát cơ cấu nên chính sách tiền tệ và tài khóa không thể nới lỏng, CPI năm 2013 theo ông Trần Du Lịch dự kiến ở mức khoảng bằng năm 2012, tỷ giá ổn định, biến động nhẹ. 

Ông Trần Du Lịch cũng cho rằng năm 2012 Chính phủ còn tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ phục vụ cho mục tiêu ổn định vĩ mô, hỗ trợ thị trường, củng cố hệ thống ngân hàng thương mại, xử lý nợ xấu là ưu tiên số một, vai trò nhà nước ở mức độ nào đó; để thị trường tự điều tiết.

Q. Nguyễn
Theo TTVN

Tổng số Khách

Quảng Cáo/ Thông Báo của lớp báo k32

Labels

About This Blog

dich vu ke toan gia redao tao ke toan tong hop

Blogroll



Free Auto Backlink Exchange Service Vietnam Backlinks Free Backlink Exchange For Seo
Topics :
Dịch vụ kế toán | Đào tạo kế toán | Dịch vụ GPS

HỖ TRỢ: MR.TUẤN

0979.16.35.30
hỗ trợ qua yahoo